Tuyển sinh đại học 2027: Bỏ điểm cộng IElts, siết phương thức
Lộ trình dự kiến cắt giảm số lượng phương thức tuyển sinh đại học (ĐH) từ tối đa 3 phương thức cho mỗi ngành vào năm 2027 xuống còn duy nhất 1 phương thức vào năm 2028 đang tạo ra tranh luận.
“Lạm phát” phương thức xét tuyển
Năm 2026, các trường ĐH sử dụng 19 phương thức để xét tuyển, trong đó, trường nhiều nhất 5, trường ít nhất 2. Dự thảo quy chế mới của Bộ GD&ĐT dự kiến mỗi trường được sử dụng tối đa 5/11 phương thức nhưng mỗi ngành chỉ được sử dụng 3 phương thức. Đến năm 2028, dự kiến sử dụng 1 phương thức/ngành.
Lí giải sự điều chỉnh này, GS.TS Nguyễn Tiến Thảo, Vụ trưởng Giáo dục ĐH (Bộ GD&ĐT) cho biết, giai đoạn 2022-2026, có trên 36% tổng số lượt chương trình đào tạo có căn cứ đối chiếu chính thức; điểm học bạ trong cùng mã ngành cao hơn điểm thi tốt nghiệp THPT khá xa; trên 2.000 chương trình đào tạo tuyển sinh có chênh lệch giữa các phương thức từ 3 điểm trở lên.
Khi các thang đo chưa thực sự tương đương, việc chia một ngành thành nhiều cửa xét tuyển có thể làm thí sinh cùng năng lực được đối xử khác nhau.

Thí sinh tìm hiểu thông tin trong ngày hội tuyển sinh đại học 2026 tại Đại học Bách khoa Hà Nội với sự tham gia của hơn 100 trường đại họcẢnh: DUY PHẠM
Đại diện Bộ GD&ĐT khẳng định, tinh gọn phương thức nhằm thiết lập một sân chơi bình đẳng, không phải thu hẹp cơ hội bước chân vào giảng đường của thí sinh.
Chủ trương này mở ra lợi thế thấy rõ, thay vì phải “rải mành mành”, kiệt sức chạy đua từ chứng chỉ quốc tế, bài thi đánh giá năng lực cho tới kì thi tốt nghiệp THPT, học sinh sẽ có lộ trình ôn tập tập trung, minh bạch và nhẹ gánh hơn
Sự thay đổi mang lại công bằng đặc biệt lớn cho nhóm học sinh nông thôn, vùng sâu vùng xa, những người vốn chịu nhiều thiệt thòi trước các phương thức xét tuyển riêng đắt đỏ.
Thế nhưng, việc khép lại hầu hết các cánh cửa phụ cũng đồng nghĩa với việc toàn bộ rủi ro sẽ dồn vào một thời điểm duy nhất, làm triệt tiêu chiến lược “không bỏ trứng vào cùng một giỏ”.
Khi ngành học mơ ước chỉ căn cứ vào một kì thi độc nhất, chỉ cần một sự cố sức khỏe hay biến động tâm lí nhất thời trong phòng thi, cánh cửa vào ĐH của thí sinh xem như đóng sập trong năm đó.
Đồng thời, những học sinh sở hữu năng lực chuyên biệt, có thế mạnh vượt trội về ngoại ngữ hay năng lực thực hành nhưng không giỏi giải đề trắc nghiệm chuẩn hóa cũng sẽ mất đi lợi thế cạnh tranh vốn có.
Đối với các trường ĐH, việc tinh gọn phương thức mang lại cơ hội chuẩn hóa quy trình vận hành và cắt giảm tối đa chi phí hành chính.
Bộ máy tuyển sinh không còn phải xử lí bài toán lọc ảo phức tạp và buộc phải định vị chính xác chân dung người học phù hợp nhất với đặc thù đào tạo.
Mặc dù vậy, quy định mới cũng tước đi công cụ thu hút người học linh hoạt của các trường. Tính tự chủ trong việc đa dạng hóa nguồn tuyển sinh của cơ sở đào tạo cũng bị thu hẹp đáng kể.
Phép thử khắc nghiệt
Nhìn rộng ra toàn hệ thống giáo dục, việc quy về một mối là bước đi cần thiết để lập lại trật tự kỉ cương sau giai đoạn bùng nổ phương thức thiếu kiểm soát, đồng thời ngăn chặn triệt để hiện tượng làm đẹp học bạ ở bậc phổ thông.
Thay đổi này thúc đẩy một cuộc phân tầng tự nhiên rất rõ nét, các ĐH hàng đầu sẽ quy tụ về các kì thi đánh giá tư duy, đánh giá năng lực chuyên biệt; khối trường còn lại sẽ chọn điểm thi tốt nghiệp THPT làm thước đo chủ đạo.

Phụ huynh cùng tân sinh viên tham quan phòng lab tại Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội trong ngày nhập học Ảnh: NGHIÊM HUÊ
Ông Nguyễn Tiến Thảo thông tin, dự thảo tập trung vào bốn nhóm điều chỉnh: giảm và chuẩn hóa phương thức xét tuyển; không sử dụng điểm cộng ngoài điểm ưu tiên theo chính sách; xác định rõ nguồn tuyển và ngưỡng đầu vào; hoàn thiện điều kiện dự tuyển liên thông từ trung học nghề, trung cấp, cao đẳng lên ĐH.
Thế nhưng, trọng trách đặt lên vai các kì thi chuẩn hóa quốc gia lúc này nặng nề hơn bao giờ hết. Khi trở thành căn cứ sống còn duy nhất cho từng ngành học, đề thi tốt nghiệp THPT và các bài thi đánh giá năng lực bắt buộc phải đạt độ tin cậy, an toàn tuyệt đối và có tính phân hóa cao
Nếu khâu khảo thí không bảo đảm sự công bằng và chuẩn xác, áp lực của cả hệ thống giáo dục sẽ lập tức dội ngược trở lại trường phổ thông và phụ huynh, học sinh trên cả nước.
Một chuyên gia cho rằng, cần đặc biệt cân nhắc quy định tiến tới một phương thức tuyển sinh/ngành từ năm 2028.
Nếu phương thức đó vẫn cho phép kết hợp nhiều tiêu chí như điểm thi, học bạ, ngoại ngữ, năng khiếu… trong một mô hình thống nhất thì khá hợp lí.
Nhưng nếu hiểu theo hướng chỉ còn một nguồn điểm duy nhất thì có thể làm giảm tính linh hoạt và bỏ sót những thí sinh có năng lực phù hợp với từng ngành.
Vị chuyên gia đánh giá, quy chế mới có thể giúp đầu vào đồng đều và công bằng hơn, nhưng chất lượng sinh viên khi tốt nghiệp vẫn phụ thuộc chủ yếu vào chương trình đào tạo, đội ngũ giảng viên, thực hành, kiểm tra đánh giá và mức độ gắn với nhu cầu của thị trường lao động.
Vì vậy, điều quan trọng phương thức phải chọn đúng người phù hợp với chương trình đào tạo.
Một điểm mới của dự thảo là Bộ GD&ĐT dự kiến năm 2027 chỉ còn điểm ưu tiên theo khu vực, đối tượng chính sách.
Các trường không được sử dụng điểm cộng (do tự quy định cho thành tích, chứng chỉ hoặc tiêu chí bổ sung), tức bỏ cộng điểm học sinh giỏi, chứng chỉ ngoại ngữ…
Ông Nguyễn Tiến Thảo cho rằng, thực tế, điểm cộng có thể tạo bất bình đẳng. Thứ nhất, cơ hội tiếp cận chứng chỉ, kì thi hoặc hoạt động được cộng điểm khác nhau theo điều kiện kinh tế, địa bàn và khả năng chi trả. Thứ hai, cùng một loại chứng chỉ nhưng mức quy đổi, mức cộng và tổ hợp áp dụng khác nhau giữa các trường.
Với phụ huynh đây được cho là cú "bẻ lái gắt" khi gần như 3 năm học vừa qua, họ đã đầu tư thời gian, tài chính để con học thêm tiếng Anh, thi chứng chỉ để lấy điểm cộng xét tuyển. Tuy quy định năm 2026 chỉ được cộng tối đa 1,5 điểm nhưng đó cũng là cơ hội lớn cho thí sinh. Bỏ cộng điểm, đồng nghĩa với việc khoản đầu tư của phụ huynh không còn giá trị trong khi Bộ không có "dự lệnh" báo trước.
Thứ ba, một năng lực có thể được ghi nhận hai lần-vừa là thành phần điểm xét tuyển, vừa được cộng thêm-làm sai lệch thứ tự thí sinh.
Thứ tư, ở nhóm điểm cao, chỉ một phần điểm cộng nhỏ cũng có thể thay đổi kết quả trúng tuyển, dù chưa chứng minh được mức điểm đó phản ánh tốt hơn khả năng học tập của chương trình.
Cách xử lí phù hợp hơn là đánh giá đúng năng lực, đúng chỗ. Thí sinh có chứng chỉ năng lực ngoại ngữ vẫn có thể được quy đổi vào môn ngoại ngữ trong tổ hợp xét tuyển theo quy tắc công khai, hoặc dùng để chứng minh yêu cầu đầu vào của chương trình đào tạo bằng ngoại ngữ.
Khi đó, chứng chỉ được sử dụng như một minh chứng năng lực có liên quan trực tiếp, thay vì trở thành một khoản điểm cộng ngoài thang đo. Nguyên tắc là một năng lực được ghi nhận một lần, theo cùng quy tắc đối với mọi thí sinh.
Đó là đứng dưới góc độ quản lí của Bộ GD&ĐT. Với phụ huynh đây được cho là cú “bẻ lái gắt” khi gần như 3 năm học vừa qua, họ đã đầu tư thời gian, tài chính để con học thêm tiếng Anh, thi chứng chỉ để lấy điểm cộng xét tuyển.
Tuy quy định năm 2026 chỉ được cộng tối đa 1,5 điểm nhưng đó cũng là cơ hội lớn cho thí sinh. Bỏ cộng điểm, đồng nghĩa với việc khoản đầu tư của phụ huynh không còn giá trị trong khi Bộ không có “dự lệnh” báo trước.