Học sinh TPHCM tựu trường năm học 2025-2026.
Theo Sở GD&ĐT TPHCM, năm học 2026-2027, thành phố dự kiến có 170.621 học sinh hoàn thành chương trình lớp lá đủ điều kiện vào lớp 1. Số học sinh hoàn thành chương trình lớp 5 đủ điều kiện vào lớp 6 là 184.430 em, trong khi tổng số học sinh lớp 9 là 169.927 em.
Kết quả khảo sát tại 168 đơn vị hành chính cho thấy hệ thống giáo dục công lập của thành phố hiện có 1.245 trường, gồm 781 trường tiểu học và 464 trường THCS.
Ở cấp tiểu học, mạng lưới trường lớp được phân bổ đầy đủ tại 168/168 đơn vị hành chính (phường, xã, đặc khu), mỗi địa phương đều có ít nhất một trường. Tuy nhiên, ở cấp THCS, hiện vẫn còn 2 phường chưa có trường, gồm phường Tân Sơn và phường Phú Thuận (TPHCM cũ), dù mỗi phường vẫn duy trì 3 trường tiểu học. Vì vậy, học sinh hoàn thành lớp 5 tại hai địa phương này sẽ được phân bổ đến các trường THCS ở các phường lân cận.
Ông Nguyễn Văn Phong, Phó Giám đốc Sở GD&ĐT TPHCM cho biết, qua rà soát, Sở ghi nhận hai dạng chênh lệch về số lượng trường giữa cấp tiểu học và THCS trong cùng địa phương.
Trường hợp số trường tiểu học nhiều hơn THCS: Phần lớn địa phương thuộc nhóm này. Một số nơi có mức chênh lệch lớn như xã Long Hải (Bà Rịa-Vũng Tàu cũ) chênh 7 trường (14 tiểu học, 7 THCS); phường Bình Hưng Hòa (TPHCM cũ) chênh 6 trường (9 tiểu học, 3 THCS). Ngoài ra, xã Tân An Hội, phường Hiệp Bình và phường Thuận Giao đều chênh 5 trường, với 8 trường tiểu học và 3 trường THCS.
Trường hợp số trường THCS nhiều hơn tiểu học: Có 5 địa phương ghi nhận tình trạng này, gồm phường Tân Hòa, phường Cát Lái, phường Bình Phú, phường Bình Quới và xã Trừ Văn Thố.
Lãnh đạo Sở GD&ĐT cho biết năm học 2026-2027 là năm đầu tiên TPHCM triển khai mô hình chính quyền địa phương hai cấp, vì vậy công tác tuyển sinh đầu cấp có thể phát sinh những khó khăn nhất định, đặc biệt trong việc phân tuyến tuyển sinh và điều chỉnh địa bàn học sinh. Trước thực tế này, UBND TP đã chỉ đạo Sở GD&ĐT xây dựng các phương án phù hợp nhằm bảo đảm quyền lợi học tập cho học sinh.
Theo ông Phong, Sở GD&ĐT hiện đang phối hợp với UBND các phường, xã, đặc khu để rà soát và xác định lại ranh giới địa bàn sau sáp nhập, đồng thời thống kê chi tiết số lượng trường học và học sinh tại từng địa phương. Trên cơ sở dữ liệu này, sở áp dụng công nghệ bản đồ số để tính toán khoảng cách di chuyển hợp lý cho học sinh, qua đó tạo thuận lợi cho các em và giúp các trường tổ chức tuyển sinh hiệu quả, hạn chế tối đa tình trạng nơi thừa, nơi thiếu học sinh.
Tuy vậy, bản đồ số chỉ là công cụ hỗ trợ giúp cơ quan quản lý có thêm cơ sở tham khảo, không phải yếu tố quyết định cuối cùng trong việc phân bổ học sinh. Việc bố trí học sinh phải bảo đảm cân bằng giữa hai yếu tố: học sinh được học gần nơi cư trú, thuận tiện đi lại, đồng thời các trường tuyển đủ số lượng học sinh tối thiểu theo chỉ tiêu kế hoạch, bảo đảm điều kiện tổ chức và quản lý hoạt động giáo dục.